Đài Little
Điệp-Mỹ-Linh
Thăng-Long
thực
hiện
trực tiếp truyền thanh
TL.- Kính chào chị Điệp-Mỹ-Linh.
ĐML.- Dạ,
Điệp-Mỹ-Linh xin trân trọng
kính chào quý vị thính giả của Đài Little Saigon và xin kính chào anh
Thăng-Long.
TL.- Lâu lắm mới gặp lại chị. Sức khỏe của chị vẫn bình thường chứ?
ĐML.- Cảm ơn anh, tôi vẫn bình thường, vẫn còn đi làm.
TL.- Quý thính giả tại Houston có lẽ đã biết đến chị Điệp-Mỹ-Linh, một người, trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều sinh hoạt văn hóa trong
cộng đồng của chúng ta; chỉ vài năm gần đây chị mới ít xuất hiện. Ngoài những sinh hoạt văn hóa, chúng tôi nghĩ rằng rất nhiều người trong cộng đồng của chúng ta biết đến chị Điệp-Mỹ-Linh qua tiếng đàn
Accordéon của chị.
Hôm nay, Đài Little Saigon mời chị Điệp-Mỹ-Linh đến đây để trình bày về một tác phẩm mới của chị, mang tựa đề Trăng Lạnh. Tôi được hân hạnh đọc hết tác phẩm này vào ngày
hôm qua trong khi chờ đợi sửa xe.
Có nhiều vị thính giả vừa mới định cư tại Houston, chưa được biết về chị; xin chị cho thính giả được biết sơ lược về quá trình hoạt động cũng như về tiểu sử của chị.
ĐML.- Thưa, tên thật của tôi là Nguyễn
Thị Thanh-Điệp. Bút hiệu Điệp-Mỹ-Linh khởi đầu từ bút hiệu Điệp-Linh của Ba tôi, do tên của
tôi và Linh, tên người
em trai kế, ghép lại. Khi Má tôi sinh một
em gái, tên là Mỹ-Phượng cũng là lúc tôi tập
tành viết lách. Tôi xin Ba tôi cho tôi “mượn” bút hiệu Điệp-Linh và tôi ghép chữ Mỹ từ
tên người
em gái để trở thành Điệp-Mỹ-Linh. Ba tôi đồng
ý.
TL.- Chị lớn lên tại Nha Trang, nhưng chị gốc Huế hay là gốc Nha-Trang?
ĐML.- Thưa, tôi được may mắn là Má tôi người Huế, Ba tôi người Nha Trang, tôi được sinh ra tại Dalat; cả ba thành phố đều đẹp cả. Thời gian sống tại Nha Trang, tôi chơi đàn Accordéon và hát trong ban ca nhạc
Bình-Minh, Đài Phát Thanh Nha-Trang, từ giữa thập niên 50 cho đến đầu
thập niên 60.
TL.- Lúc nhỏ chị học ở Dalat hay là ở Nha Trang?
ĐML.- Thưa anh, lúc nhỏ ở
Dalat tôi học trường Domain De Marie. Tại
Nha Trang tôi học trường trung học Võ-Tánh. Sau đó tôi học
Luật tại đại học Luật Khoa Saigon.
TL.- Những kỷ niệm xa xưa của chị ở Dalat hoặc Nha Trang như thế nào, chị có thể cho thính giả biết hay không?
ĐML.- Kỷ niệm về
Dalat và Nha Trang thì nhiều lắm; nhưng thường
thường
tôi gợi lại những kỷ niệm đó trong tác phẩm của
tôi.
TL.- Qua những tác phẩm của chị, không những kỷ niệm được chị gợi lại mà chị còn lồng vào câu chuyện những ca khúc rất thích hợp với tâm lý nhân vật, phải không ạ?
ĐML.- Dạ,
thưa
anh, đúng như vậy.
TL.- Cũng qua tác phẩm này, người đọc còn nhận thấy trình độ sinh ngữ của chị rất khá, nhất là Pháp văn.
ĐML.- Thưa, ông Cụ của tôi ngày trước là giáo sư Pháp văn các lớp đệ nhị cấp trường Trung-Học Cam-Ranh. Còn Anh văn, ngày xưa, tôi chọn là sinh ngữ
chính.
TL.- Chị lập gia đình năm nào?
ĐML.- Thưa, tôi lập gia đình năm 1962, tại
Nha-Trang.
TL.- Vâng, tôi có thời gian ở Nha-Trang.
ĐML.- Anh
thấy Nha-Trang như thế nào? Đối với tôi, bãi biển
Nha-Trang đẹp nhất thế giới.
TL.- Ô, bãi biển Nha Trang đẹp nhất thế giới! Vâng, trước khi chúng ta đề cập đến tác phẩm Trăng Lạnh, trong đó chị Điệp-Mỹ-Linh đã gợi lại những kỷ niệm rất lý thú, tôi xin đọc qua những tác phẩm khác của Điệp-Mỹ-Linh, được in nơi bìa sau của cuốn Trăng Lạnh. Đó là Một Đoạn Đường, Bước Chân Non, Sau Cuộc Chiến, Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa Ra Khơi, 1975, Cuồng Lưu, Đưa Tiển, Tưởng Như Trở Về, v.v... Xin chị vui lòng cho
biết thời điểm nào chị đã sáng tác những tác phẩm này?
ĐML. Điệp-Mỹ-Linh
thành thật xin lỗi quý thính giả và
anh Thăng-Long về một sự nhầm lẫn rất đáng tiếc. Đó là, khi đánh máy những
tác của tôi vào bìa sau của
cuốn Trăng Lạnh, tôi đã quên, không liệt
kê tác phẩm Tìm Vết Chân Xưa.
Về thời điểm những tác phẩm của tôi xuất hiện, thật tình tôi không nhớ
rõ. Tôi chỉ nhớ cuốn Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa Ra Khơi, 1975. Tôi thực hiện tác phẩm này vào khoảng
đầu thập niên 80 và hoàn tất
vào khoảng 1990. Thời gian đó, tôi cảm
thấy tôi phải làm một cái gì đó cho quân chủng
Hải-Quân.
TL.- Tại sao, thưa chị?
ĐML.- Tôi
nghĩ Hải-Quân đã có công rất lớn
trong cuộc di tản quân nhân, quân dụng
và đồng bào từ vùng I vào Saigon, khoảng
tháng Ba năm 1975. Và sau đó, cũng chính Hải-Quân đã đưa không biết bao nhiêu ngàn đồng
bào và quân nhân các cấp thoát khỏi nanh vuốt Cộng Sản, vào khoảng tháng Tư năm 1975. Tôi nhận thấy những công trạng của Hải-Quân rất đáng được đề cao.
TL.- Còn lý do nào khác không? Chẳng hạn như phu quân ngày trước của chị là...
ĐML.- Vâng,
cũng có những lý do phụ, chẳng hạn như Ba của các con tôi là một
sĩ quan cao cấp Hải-Quân; và tôi cũng có những
người bạn
cùng học trường Võ-Tánh đã gia nhập Hải-Quân
như
Bùi-Tiết-Quý, Nguyễn-Dinh, Nguyễn-Mùi, v.v... Vì vậy,
đối với tôi, Hải-Quân rất là thân thiết.
TL.- Thưa, ngày đó, có phải chị là hoa khôi của trường Võ-Tánh hay không?
ĐML.- Dạ,
không dám đâu.
TL.- Ngày xưa, Nha Trang là nơi có rất nhiều trung tâm huấn luyện quân sự như Không-Quân, Biệt-Động-Quân, Hải-Quân, v.v...Tại sao chị không chọn ngưởi bạn đường từ các binh chủng khác mà chị lại chọn người bạn đời từ Hải-Quân? Phải chăng vì bộ quân phục tiểu lễ trắng của Hải-Quân?
ĐML.- Dạ,
không phải, thưa anh. Tôi theo đạo Phật. Tôi nghĩ
rằng bất cứ vấn đề gì hay là sự việc gì xảy ra trong đời đều có một nguyên nhân hay là một
xuất xứ nào đó mà mình không thể kiểm
soát được.
Tôi muốn nói đến Nhân Duyên.
TL.- Vâng. Bây giờ chúng ta trở lại với tác phẩm Trăng Lạnh. Mở đầu tập truyện Trăng Lạnh là bút ký viết bằng Việt-ngữ và được dịch ra Anh-ngữ, nói về sự biết ơn của những người tỵ nạn như chúng ta, phải không, thưa chị?
ĐML.- Vâng.
TL.- Xin chị cho thính giả biết khái lược tại sao chị viết bút ký này.
ĐML.- Thưa, tựa đề bút ký đó là Tạ Ơn Mảnh Đất Này. Thời gian tôi viết
bút ký đó là lúc nước Mỹ bị
rúng động vì sự tấn công rất tàn bạo tại Nữu-Ước và Hoa-Thịnh-Đốn, ngày 11 tháng 09 năm 2001; và tôi đang
du lịch tại Nga. Bút ký đó được viết vội tại phi trường Frankfurt, nước Đức, trong khi tôi chờ
chuyến bay chuyển tiếp để trở về Nữu-Ước.
TL.- Xin chi nói qua cảm xúc của chị khi chị viết bút ký Tạ Ơn Mảnh Đất Này.
ĐML.- Thưa quý thính giả và
anh Thăng-Long. Cảm xúc của tôi lúc đó giống
như cảm
xúc của tôi năm 1968 khi nghe tin Việt-Cộng
tấn công và cưỡng chiếm Huế, quê Ngoại của tôi. Tôi đau lòng và khổ
tâm lắm. Tôi không biết
làm gì cho Huế. Năm 2001 cũng vậy,
tôi đau lòng và khổ tâm lắm nhưng không biết phải làm gì cho nước Mỹ; vì nước Mỹ đã cứu giúp gia đình tôi trong khi chúng tôi bị
chính những người cùng chủng tộc quyết tâm tận diệt chúng tôi. Chúng tôi đã lập lại
cuộc đời từ đôi bàn tay trắng.
Tôi được
Cha Mẹ dạy rằng “Ăn trái nhớ kẻ trồng
cây”. Bây giờ các con tôi thành đạt,
tôi có việc làm tốt, gia đình tôi bình yên. Tôi xin biết ơn những người đã cưu mang chúng tôi. Và thời điểm 1975 dường như Tổng Thống Ford là người đã quyết định trợ giúp người Việt tỵ nạn Cộng Sản.
TL.- Năm 1975, chúng ta là những người may mắn, vậy chúng ta biết ơn những người cứu giúp chúng ta. Nhưng, từ cương vị một nhà văn, chị có nghĩ rằng vì “bàn cờ” thế giới, vì Hoa-Kỳ bỏ rơi chúng ta cho nên mấy mươi triệu đồng bào Việt-Nam phải quằn quại đau khổ cho đến hôm nay hay không?
ĐML.- Có.
Nhiều khi tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng, nghĩ lại, tôi cho rằng chúng ta, người Việt-Nam, cũng phải
chịu trách nhiệm một phần nào đó, trong sự sụp đổ miền
Nam Việt-Nam năm 1975; vì chúng ta chưa chu toàn bổn phận. “Chuyện nhà” của chúng ta mà chúng ta ỷ lại
nhiều quá vào anh hàng xóm.
TL.- Lý do nào chị lại nghĩ như vậy?
ĐML.- Trong
bài phỏng vấn Trung Tướng Vĩnh-Lộc – vị Tham Mưu Trưởng
cuối cùng của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa – đăng trong phần
phụ lục của cuốn tài liệu Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa Ra Khơi, 1975 Trung Tướng Vĩnh-Lộc cho biết rằng suốt ngày 29 tháng Tư 1975, Ông đã liên tục
nhận được không biết bao nhiêu “cú” điện
thoại từ các đơn vị, lớn cũng như nhỏ, xin tiếp tế đạn dược để tử thủ. Như vậy nghĩa là gì? Nghĩa là Người Lính Việt-Nam Cộng-Hòa không bao giờ
chùn bước,
không bao giờ khiếp sợ trước sự tấn công tàn bạo của Bắc quân. Người Lính Việt-Nam Cộng-Hòa đã chết một cách rất dũng mãnh, rất
can cường.
Nhưng
Người
Lính Việt-Nam Cộng-Hòa cũng như nhân dân miền Nam, không có những
cấp lãnh đạo tốt, giỏi, và có đạo đức.
TL.- Như vậy có nghĩa rằng chị, là vợ một sĩ quan cao cấp, cũng như những nhân vật có nhiều kiến thức mà chị thường tiếp xúc, đều đồng ý rằng chúng ta đã
chưa chu toàn bổn phận, chúng ta đã quá ỷ lại vào ngoại ban cho nên
chúng ta đành mất Quê Hương một cách đau đớn như vậy, có phải không, thưa chị?
ĐML.- Vâng.
Chúng ta không có cấp lãnh đạo đủ tài đức.
TL.- Nhưng những sĩ quan trẻ như phu quân của chị, ngày trước, lúc nào cũng chiến đấu rất hăng say...
ĐML.- Vâng,
như
lúc nãy tôi đã thưa,
có những anh lính hoặc
những sĩ quan, cấp
thấp thôi, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng thì cũng có những
sĩ quan cao cấp, như Tướng
Nguyễn-Khánh và Tướng Nguyễn-Cao-Kỳ, v.v...là những
cấp lãnh đạo không có tài, không có đức.
TL.- Để trở lại với tác phẩm Trăng Lạnh, trang số 5 chị viết: “...Khi cuộc
chiến Trung-Đông bùng nổ,
năm 1992, tôi đã đau buồn và lo sợ khi đưa tiễn một độc giả trẻ và thân thiết nhất của tôi, Hải-Quân Đại-Úy Hòang-Quốc-Tuấn...” Hoàng-Quốc-Tuấn là ai, thưa chị?
ĐML.- Thưa
anh, Hoàng-Quốc-Tuấn là một sĩ quan Hải-Quân Hoa-Kỳ. Vào thập
niên 90, Tuấn đọc tác phẩm Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa Ra Khơi, 1975 của tôi. Tuấn rất thích thú, Tuấn
không ngờ Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa “của mình” can cường
như vậy. Và Tuấn liên lạc với tôi. Tôi được Tuấn mời tham dự lễ mãn khóa Thủy-Bộ tại Coronado, San Diego. Sau đó Tuấn
tòng sự trên Hàng-Không Mẫu-Hạm
USS Independence. Khi Tuấn cho tôi hay chiếc
USS Independence sẽ tham dự trận Desert Storm thì tôi rất
lo sợ. Tôi đã viết truyện Đưa Tiễn, trong tác phẩm Đưa
Tiễn, để nói về Tuấn và những cảm xúc rất thật của tôi đối với Tuấn khi tôi nhận được những lá thư của Tuấn gửi từ vùng lửa đạn.
TL.- Chị có những liên hệ mật thiết với Tuấn từ đó đấn nay, vậy hiện tại Tuấn đang tòng sự tại đâu?
ĐML. Thưa
anh, sau khi mãn hạn kỳ, Tuấn đã giải ngũ và hiện đang làm việc
cho Bộ Ngoại Giao Hoa-Kỳ.
TL.- Tiếp đến là truyện Thăm Mộ. Xin chị cho biết trong trường hợp nào chị viết truyện này.
ĐML.- Dạ,
truyện Thăm Mộ tôi viết về Ba tôi. Ba tôi đã bị mấy
ông Việt-Cộng nhốt tù suốt thời gian dài. Ba tôi bị
đày đọa cả tâm hồn lẫn thể xác. Chỉ khi nào trại tù có văn nghệ
thì họ mới tạm “xung” Ba tôi vào đội
văn nghệ. Khi ông Cụ mất, tôi không về
cho nên tôi bị ray rức và ăn năn.
TL.- Tại sao chị không về? Biết bao nhiêu người đã về.
ĐML.- Dạ,
tôi biết. Tôi đã về Việt-Nam hai lần vào thời gian bà Nội của các cháu bệnh. Chính hai lần
trở về này đã cho tôi thấy một
thực trạng đau lòng trên quê hương
của chúng ta. Đó là, không những
tên đường, tên trường bị thay đổi mà ngay cả ngôn ngữ cũng thay đổi và nhân tính thuần hậu của
người Việt-Nam cũng không còn! Họ cư xử với
nhau không có một chút tình! Vì vậy,
khi Ba tôi mất, tôi rất đau lòng nhưng
tôi không muốn về. Tôi không muốn
thấy và nghe những điều nghịch lý khiến cho lòng tôi đau thêm.
TL.- Tôi nghĩ, những người sống nặng về tình cảm, như chị, thì không thể hòa đồng trong xã hội mà mọi người chỉ biết chạy theo miếng cơm, manh áo mà không nghĩ đến tình người,
phải không, thưa chị?
ĐML.- Dạ,
đúng vậy.
TL.- Kính thưa quý vị thính giả của đài Little Saigon, trong Trăng Lạnh tôi nhận thấy có nhiều chuyện rất hay, rất lý thú, nói lên tâm trạng của người Việt-Nam, của người vợ Lính mà nhà văn Điệp-Mỹ-Linh đã trang trải nỗi lòng cùng những tư duy của chị. Truyện Tạ Lỗi với Người Thơ, chị Tạ Lỗi với ai đây?
ĐML.- Dạ...kính
thưa quý vị thính giả và kính thưa anh Thăng-Long, tôi thường
bị tính thật thà chi phối cho nên tôi không thể
nói dối. Thưa anh, truyện Tạ Lỗi với Người Thơ là một chuyện thật và là một chuyện rất buồn, tưởng chỉ xảy ra trong xi-nê hay trong tiểu
thuyết.
TL.- Chị có thể nói rõ hơn được không? Vì trong bài này có những vần thơ rất hay.
ĐML.- Thưa
anh, câu chuyện khởi nguồn từ một buổi văn nghệ ủy lạo binh sĩ Thủy-Quân Lục-Chiến tại căn cứ Sóng-Thần, Nha-Trang, vào đêm Trung Thu năm 1956,
do Ban Ca Nhạc Bình-Minh thực
hiện, theo lời mời của Trung-úy Nguyễn-Bá-Liên.
Sau buổi ủy lạo đó, anh Nguyễn-Bá-Liên trao tôi bài thơ Tiếng Đàn Đêm Trung-Thu do một sinh viên sĩ quan Quân-Y, bút hiệu Hoàng-Việt-Sơn, sáng tác để tặng tôi. Nhưng lúc đó tôi chỉ là cô bé 14 tuổi, còn kẹp tóc, chỉ mê đàn và thích hát chứ chưa nghĩ đế